Xin chịu

Có anh chàng kia, vốn ngốc đại là ngốc, mà lại phải đi làm rể nên trong bụng rất lo. Biết tính con, nên trước khi đi bố mẹ gọi vào dặn dò:

- Ở rể thì khó gì mà ngại. Chỉ cần bố vợ làm gì thì mình làm nấy, cho khỏi mất lòng ông là được.

Anh ta nghe nói vững dạ vội khăn gói đi sang nhà vợ. Hôm ấy cũng ngồi ăn cơm với bố vợ, thấy bố vợ gắp thịt, anh cũng gắp thịt; bố vợ chấm rau cũng chấm rau, bố bợ cầm đũa tay trái anh cũng đổi đũa sang tay trái. Bố vợ vô ý đánh vãi mấy hạt cơm ra chiếu, anh cũng bỏ mấy hạt cơm ra chỗ mình ngồi. Bố vợ đang ăn canh miến thấy thế không nhịn cười được, bật phì cười, nào ngờ bị sặc. Một sợi miếng lòng thòng thò ra ngoài lỗ mũi. Anh ta nhìn bố vợ, ngẩn người ra, rồi đứng dậy chắp tay vái dài:

- Thưa thầy, mấy trò khác thì con còn cố được, chứ trò này thì con xin chịu!

Viết chữ thờ

Vùng Lệ Thủy người ta gọi học trò là thầy khóa. Hồi còn là “thầy khóa”, nhà bố vợ lập cái bàn thờ nhỏ ở nơi bếp, ông bảo Phủ Tuấn:

- Khóa Tuấn học hành xưa nay, bây chừ viết cho tui mấy chữ để thờ.

Khóa Tuấn liền lấy giấy bút viết hai chữ lớn : “TUẤN CAO”. Ông bố vợ không biết chữ, kính cẩn treo lên bàn thờ. Một hôm, có người khách trông thấy hỏi :

- Chữ thờ trong bếp răng lại “Tuấn Cao”. Anh Tuấn đã chết đâu mà bác lập bàn thờ.

Bố vợ sửng sốt, gọi khóa Tuấn đến trách:

- Tưởng mi học hành khá, tui nhờ viết chữ thờ, ai ngờ mi lại viết tên mi để thờ !

Khóa Tuấn thưa :

- Bẩm thầy! Ai nói rứa là họ chưa thông đấy thôi. Con viết đúng ý thầy đó ạ “Tuấn cao” nghĩa là “Táo quân”. Ở bếp thờ táo quân răng gọi là dốt được !

Trích Giai thoại về Phủ Tuấn (Truyện Trạng Việt Nam)

Văn hay

Một thầy đồ đang ngồi cặm cụi viết bài. Bà vợ đến bên cạnh nói:

- Ông lấy giấy khổ to mà viết có hơn không?

Thầy đồ lấy làm đắc chí, cho là vợ khen tài văn chương của mình, văn tứ dồi dào giấy khổ nhỏ không đủ chép, nhưng cũng hỏi lại:

- Bà nói vậy là thế nào?

Bà vợ thong thả nói:

- Ông chả biết tính toán gì cả, giấy khổ to bỏ đi còn gói hàng, chứ giấy khổ nhỏ thì dùng làm gì được.

Tri kỷ

Một ông quan võ tính thích thơ nôm. Ở bên cạnh nhà, có một anh chỉ khéo tán ăn. Hễ làm được một bài thơ nào, ông quan võ thường gọi anh ta sang đọc cho nghe, anh ta tán tụng khen hay. Thế là lại cho ăn uống. Một hôm, quan cho gọi anh ta sang chơi. Lúc ngồi ăn nói:

- Tôi mới làm được một cái chuồng chim ở sau vườn, nhân nghĩ được một bài tứ tuyệt, đọc bác nghe xem có được không?

- Dạ, xin ngài cứ đọc.

Ông quan võ vừa gật gù vừa ngâm:

Bốn cột chênh vênh đứng giữa trời,

Ðứa thì bay bổng đứa bay khơi.

Ngày sau nó đẻ ra con cháu

Nướng chả băm viên, đánh chén chơi.

Anh kia nức nở khen:

- Hay lắm, xin ngài đọc lại từng câu cho được thưởng thức hết cái hay của bài thơ.

Quan đọc lại:

Bốn cột chênh vênh đứng giữa trời

Anh kia tán:

- Hay! Tôi nghiệm như câu này, có lẽ ngài sẽ làm đến quan tứ trụ triều đình.

Quan lại đọc:

Ðứa thì bay bổng đứa bay khơi

Anh kia tán:

- Ngài còn thăng quan chưa biết đến đâu!

Quan đọc đến câu:

Ngày sau nó đẻ ra con cháu

Anh kia tán:

- Hay tuyệt! Con cháu ngài còn là vô số.

Quan tiếp :

Nướng chả băm viên đánh chén chơi!

Anh kia ngập ngừng rồi lại khen:

- Hay quá! Cảnh ngài về sau tha hồ mà phong lưu, phú quí.

Ông quan võ, mũi nở bằng cái thúng, đắc chí, rung đùi, rót rượu mời anh kia và bảo:

- Thơ tôi được cái tự nhiên. Bây giờ nhân có thi hứng, tôi làm thử một bài tức cảnh nữa, anh nghe xem thế nào nhé!

- Bẩm thế thì hân hạnh quá!

Quan nhìn chung quanh, trông thấy con chó, làm luôn bài thơ rằng:

Chẳng phải voi, chẳng phải trâu,

Ấy là con chó cắn gâu gâu.

Khi ngủ với nhau thì phải đứng,

Cả đời không ăn một miếng trầu.

Anh kia gật gù khen hay. Hai người mời nhau uống trà tàu, rồi anh kia cũng xin họa một bài:

Quanh quanh đằng đít lại đằng đầu,

Hễ thấy ai vào cắn gâu gâu

Ăn hết của thơm cùng của thối

Trăm năm chẳng được chén trà tàu.

Trâu Chui Cũng Lọt

Hai anh em nhà nọ, bố mẹ mất sớm, để lại một gia tài kha khá. Người em chăm chỉ làm ăn, người anh thì lười biếng, nghiện rượu, nghiện chè đủ thứ, cuối cùng nghiện cả thuốc phiện, rước bàn đèn về nhà. Người em can mãi, vẫn không nghe, nhà cửa ruộng nương bán dần, chỉ còn con trâu định bán nốt. Người em mới nghĩ ra một kế làm cho anh tỉnh ngộ. Hôm ấy, định thả trâu ra ăn cỏ, nhưng anh không tháo cửa chuồng, cứ đúng ngoài quát. Con trâu loay hoay mãi, không ra được.

Người anh nằm bên bàn đèn, thấy chướng mắt liền hỏi:

- Không mở cửa chuồng, con trâu to thế kia, ra làm sao được?

- Bấy giờ người em mới nói:

- Anh ơi! Cơ nghiệp nhà ta to gấp mấy con trâu cũng chui lọt lỗ xe điếu huống hồ cửa chuồng này, to gấp ngàn lần lỗ xe điếu nó chui không lọt hay sao?

Nghe câu nói thấm thía, người anh lấy làm suy nghĩ, ôm lấy em, khóc nức nở. Từ đó tu tỉnh dần.

Thương vợ con quá

Làng nọ có một anh tham ăn tục uống. Hễ ngồi ăn cơm, ăn cỗ với ai thì thế nào anh ta cũng gắp miếng to, miếng ngon.

Một lần nhà nọ có giỗ, mời anh ta sang ăn cỗ. Biết tính anh ta, khi làm món mọc, nhà này nhét vào một cái mọc ba bốn quả ớt muỗi. Khách khứa đến đông đủ, khi bưng cỗ ra, anh ta được mời ngồi mâm có cái mọc to. Vừa cầm đũa, anh ta đã gắp ngay cái mọc ấy rồi bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến. Nào ngờ nhai phải mấy quả ớt cay quá, nước mắt nước mũi tuôn ra. Chủ nhà hỏi:

- Sao lại thế?

- Tôi được ăn ở đây mâm cao cỗ đầy, nhưng vợ con ở nhà chưa có cái gì bỏ vào bụng, nghĩ thương quá tôi khóc, nên nước mắt nước mũi trào ra đấy.

Thừa một con thì có

Một anh ngốc ra chợ mua được một đàn bò sáu con, ngồi lên lưng con đầu đàn rồi dắt cả đàn về. Giữa đường, Ngốc ta lại nhìn đàn bò đằng sau, đếm: Một, hai, ba; Một, hai, ba, bốn… năm. Ðếm đi đếm lại năm, bảy lượt, Ngốc ta vẫn thấy có năm con. Cuống lên Ngốc ta vật đầu vật tai, nhưng không biết làm thế nào cả.

Về đến nhà, thấy vợ đứng chờ ở cổng. Ngốc ta ngồi trên lưng bò mếu máo nói:

- Chết mất thôi! Tôi đánh mất một con bò rồi!

Vợ hỏi:

- Mua mấy con để mất một con?

Ngốc ta chỉ đàn bò năm con theo sau:

- Sáu con, bây giờ chỉ còn năm.

Chị vợ vừa cười, vừa nói:

- Thừa một con thì có!

Thơ vịnh con chó

Có một anh học trò nhỡ độ đường, vào huyện ăn xin, nói là học trò nghèo. Quan huyện vốn trước cũng là trò nghèo, thương hại, bảo:

- Có phải học trò thì ta ra thơ ” Con chó” cho mà làm, làm được sẽ có thưởng.

Anh học trò nghĩ một hồi lâu đọc:

Thoạt thấy chúa về ngoe nguẩy theo

Thương ôi! Con chó ngỡ con mèo.

Quan huyện nghe xong, phán:

- Học trò thật! Thơ không hay lắm, nhưng được cái đúng vần.

Liền thưởng cho một quan tiền và một thúng gạo. Anh kia lạy tạ ra về. Giữa đường gặp một anh học trò khác, anh này hỏi:

- Tiền gạo đâu ra thế?

Anh kia kể đầu đuôi câu chuyện. Anh này liền vào huyện, cũng nói là học trò nghèo, nhỡ độ đường vào huyện. Quan huyện cũng lại ra thơ như lúc nãy. Anh ta mừng quýnh, tưởng chuyến này ăn chắc, liền đọc:

Thoạt thấy chúa về ngoe nguẩy thời

Thương ôi! Con chó ngỡ ông trời.

Quan huyện nghi anh ám chỉ mình, tái mặt, sai lính đánh mấy chục roi, rồi đuổi ra.